Cá Mó gấu trúc – Blackeye thicklip

- Thức ăn cho cá mới nở: Trứng nước tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ , Trứng Artemia

- Thức ăn cho cá hương – trưởng thành: Artemia tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

- Thức ăn cho loại cá lớn: Tép trứng tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

url

– Phân loại: Cácó tên thông dụng là Mó gấu trúc; Bàng chài trót và có tên khoa học là Hemigymnus melapterus (Bloch, 1791), tên tiếng Anh là Blackeye thicklip.Cá thuộc họ:cá Bàng chài Labridae, thuộc bộ: cá Vược Perciformes.

Màu sắc: Nửa thân trước có màu trắng, màu đen với viền vảy trắng ở nửa thân sau; có nhiều hoa văn hồng cam viền xanh ở phần đầu trước nắp mang; vây đuôi màu vàng; vây lưng và vây bụng màu xám đen.

-Mô tả:Hình thái: D.IX,10-11; A.III,11; P.14; V.I,5; Ll.27-28. Chiều dài tổng gấp 2,6-2,7 lần cao thân; 2,6-2,7 lần dài đầu. Miệng nhỏ nằm ngang, răng hàm 1 hàng. Phân loại bằng phân bố màu sắc.

– Môi trường sống: Sinh sống khu vực biển, đầm phá giàu san hô, có nhiều dãy đá ngầm hướng ra biển (Myers, 1991). Sống ở độ sâu từ 1 – 30m, thường xuất hiện dạng cá nhân đơn lẻ. Phân bố ở vùng biển phía Đông của Bắc Phi tới Mozambique, Madagascar, Réunion và Mauritius, phía đông biển Tháo Bình Dương  tới quần đảo Micronesia và Samoa, phía Bắc tới quần đảo Ryukyu và Ogasawara, phía Nam tới đảo Lord Howe và New South Wales; phía tây bắc Australia của vịnh Shark (Randall, 2013).

– Tính đặc hữu và phân bố:Không là loài đặc hữu, cá phân bố ở Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương, bắc Queensland tới Sydney, New South Wales (Fishbase, 2004). Phân bố ở Việt Nam: vùng biển bắc, nam và trung bộ (Nguyễn Văn Lục và ctv., 2007).

– Giá trị đặc biệt: Rất ít (có giá trị về nuôi cảnh, 36.000 VNĐ/con).

– Mức độ quý hiếm và nguy cấp:là loài ở mức độ ít quan tâm (Least concern), thuộc bậc ít nguy cấp (Lower risk, LR) trong danh mục sách đỏ của IUCN và Việt Nam.

 – Loài bị giới hạn hoặc cấm mua bán:Không có trong danh mục bị giới hạn hoặc cấm mua bán theo công ước CITES.

Mức độ dồi dào về nguồn cung: Rất cao (289% nhu cầu thị trường được nguồn cung đáp ứng), với khả năng cung ứng đạt 81% lượt nhu cầu của cửa hàng trong tuần, và lượng hàng bán ra chiếm 28% lượng hàng sẵn có trong tuần.

Địa bàn khai thác ở Việt Nam: Nha Trang, Trường Sa, Phú Quý, Phú Quốc.

– Mùa vụ khai thác: từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm.

– Kích cỡ khai thác:cá khai thác thương mại có chiều dài tổng trung bình 21 cm, dao động từ 12 đến 39 cm.

– Mức độ hao hụt sau khai thác: Rất thấp (8-14% hao hụt sau khai thác).

– Phân hạng quản lý nguồn lợi: Rất thấp (8-14% hao hụt sau khai thác).

– Phân hạng quản lý khai thác: Mức độ cần quản lý hao hụt sau khai thác: Rất thấp.

– Tập tính sống: Sống kiểu một vơ một chồng (Fishbase, 2014); thích làm tổ trong các nhánh san hô hơn là ẩn náu dưới nền cát (Peteducation, 2014). Con non hay ẩn náu trong các nhánh san hô, con trưởng thành xuất hiện ở khu vực có nhiều mảnh vụn san hô trộn lẫn sỏi nhỏ và cát, con trưởng thành cỡ lớn di chuyển xuống các tầng nước sâu hơn để sinh sống (Fishbase, 2014).

– Tính ăn: Thức ăn chủ yếu là động vật không xương sống nhỏ, đặc biệt là động vật giáp xác, giun nhiều tơ, động vật thân mềm và sao giòn (Westneat, 2001). Chế độ ăn uống thay đổi từ động vật giáp xác trôi nổi đến động vật không xương sống có vỏ cứng (Myers 1991), (fishbase, 2014); Ăn tôm biển sống, tôm vỏ cứng, giáp xác các loại (Peteducation, 2014). Cách ăn của chúng là rỉa mồi từ các nhánh san hô chết, hoặc ngậm đầy miệng cát sau đó phân loại mồi trong miệng, đẩy cát ra ngoài qua lá mang (Westneat 2001, Grutter 2002). Tốc độ ăn cao nhất là khoảng giữa ngày, không ăn mồi vào buổi tối (Grutter 2002), (Iucnredlist, 2014). Ngoài ra chúng còn rỉa ăn vật ký sinh bên ngoài giáp xác hoặc chất nhầy do các loại cá khác tiết ra (Westneat, 2001), (Kuiter và ctv, 2001), (eol, 2014). Nói chung chúng thích ăn mồi thuộc nhóm động vật chân bụng, có kích thước rất nhỏ (Randall, 2013).

– Hình thức sinh sản: Là loài lưỡng tính, có sự hoán đổi giới tính trong vòng đời. Đẻ trứng, thụ tinh ngoài (Fishesofaustralia, 2014).

Độ mặn:32.185 – 40.307 ppt (eol, 2014); 1.020 – 1.025 ((Peteducation, 2014).

– Nhiệt độ: 24°C – 28°C (Baensch và ctv, 1997); 30°N – 32°S (Fishbase, 2014); 20.8 – 29.3°C(EOL, 2014).

– pH: 8.1 – 8.4 (Peteducation, 2014).

– dH: 8 -12 (Liveaquaria, 2014).

Tỷ lệ hao hụt trong trữ dưỡng:Rất thấp (10-16%)

– Độ khó trong trữ dưỡng:Rất thấp (1,3/10 điểm)

– Tỷ lệ hao hụt do nhiễm bệnh:Rất thấp (6%)

– Yêu cầu bể trữ dưỡng:Bể lớn (500 L, dài 2m), bố trí cát, san hô

645729102_e821090841 OLYMPUS DIGITAL CAMERA

- Thức ăn cho cá mới nở: Trứng nước tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ , Trứng Artemia

- Thức ăn cho cá hương – trưởng thành: Artemia tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

- Thức ăn cho loại cá lớn: Tép trứng tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

Share This Post