Cá Mó hạt mè – Red-lined wrasse

- Thức ăn cho cá mới nở: Trứng nước tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ , Trứng Artemia

- Thức ăn cho cá hương – trưởng thành: Artemia tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

- Thức ăn cho loại cá lớn: Tép trứng tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

Red Line Wrasse

– Phân loại: CáMó sọc hạt mè, cá bàng chài hoe có tên khoa học là Halichoeres biocellatus (Schultz, 1960), tên tiếng Anh là Red-lined wrasse. Cá thuộc họ cá Bàng chài Labridae, thuộc bộ cá Vược Perciformes.

Kiểu hình:Thân đen, sọc trắng (cá con); thân đỏ cam, sọc chấm xanh lá (cá lớn)

Màu sắc: Giai đoạn còn nhỏ cơ thể màu đen với các sọc màu trắng chạy từ mõm đến cuống đuôi; có 1 điểm mắt lớn trên vây lưng. Khi cá trưởng thành cơ thể màu nền đỏ cam với nhiều đường song song màu xanh lá từ mõm đến gốc vây đuôi; gốc vây ngực đen; vây lưng và vây hậu môn màu đỏ tía với nhiều chấm xanh lá cây; vây đuôi đỏ nhạt với 1 sọc sậm màu.

-Mô tả:Hình thái: D.IX, 13-14; A.III,12-13; P.14-15; V.I,5; Ll.27-28.Chiều dài tổng gấp 2,7-3,1 lần cao thân; 3,4-3,5 lần dài đầu. Miệng nhỏ, gần như nằm ngang, răng hàm 1 hàng. Phân loại bằng phân bố màu sắc.

– Môi trường sống: Cần hệ sinh thái rạn (reef-associated), độ sâu 6-35m (Allen và Erdmann, 2012); 7 – 35m (Baensch và Debelius, 1997) vùng nhiệt đới tọa độ 31°N – 30°N (Fishbase, 2014). Phân bố phía tây Thái Bình dương, từ Nhật Bản tới dãy đá ngầm Barrier, khu vực sinh sống cần rạn san hô và nền cát (Qualitymarine, 2014)

– Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố ở Tây Thái Bình Dương, từ Philippines, Samoa, phía bắc đến phía nam Nhật Bản, phía nam tới Rowley Shoals và Great Barrier Reef (Fishbase, 2004). Phân bố ở Việt Nam: vùng biển bắc, nam và trung bộ (Nguyễn Văn Lục và ctv., 2007).

– Giá trị đặc biệt: Rất ít (có giá trị về nuôi cảnh, 41.000 VNĐ/con).

– Mức độ quý hiếm và nguy cấp: là loài ở mức độ ít quan tâm (Least concern), thuộc bậc ít nguy cấp (Lower risk, LR) trong danh mục sách đỏ của IUCN và Việt Nam.

 – Loài bị giới hạn hoặc cấm mua bán: Không có trong danh mục bị giới hạn hoặc cấm mua bán theo công ước CITES.

Mức độ dồi dào về nguồn cung: Rất cao (126% nhu cầu thị trường được nguồn cung đáp ứng), với khả năng cung ứng đạt 77% lượt nhu cầu của cửa hàng trong tuần, và lượng hàng bán ra chiếm 81% lượng hàng sẵn có trong tuần.

Địa bàn khai thác ở Việt Nam: Nha Trang, Trường Sa, Phú Quý, Phú Quốc.

– Mùa vụ khai thác: từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm.

– Kích cỡ khai thác: cá khai thác thương mại có chiều dài tổng trung bình 6 cm, dao động từ 3 đến 9 cm.

– Mức độ hao hụt sau khai thác: Thấp (26-32% hao hụt sau khai thác).

– Phân hạng quản lý nguồn lợi: Mức độ cần quản lý độ dồi dào nguồn cung: Rất thấp; mức độ cần quản lý loài quý hiếm, đặc hữu: Thấp.

– Phân hạng quản lý khai thác: Mức độ cần quản lý hao hụt sau khai thác: Thấp.

– Tập tính sống: Sống thành nhóm nhỏ (Allen và Erdmann, 2012); có thể bám trên vỏ sẹ hoặc vỏ trai. Sống lâu, sinh trưởng chậm (Qualitymarine, 2014).

– Tính ăn: Ăn giun lửa, sên và san hô. Trong nuôi trồng chúng có thể ăn vụn da, tôm, giun ống và giun dẹt. Chúng cũng có thể ăn ký sinh trùng bề mặt của các loài cá khác (Liveaquaria, 2014).

– Hình thức sinh sản: Không có thông tin.

Độ mặn: 1.020 – 1.025 (Liveaquaria, 2014).

– Nhiệt độ: 72 – 780F (Liveaquaria, 2014).

– pH: 8.1 – 8.4 (Liveaquaria, 2014).

– dH: 8 – 12 (Liveaquaria, 2014).

Tỷ lệ hao hụt trong trữ dưỡng:Trung bình (45-52%)

– Độ khó trong trữ dưỡng:Trung bình (4,9/10 điểm)

– Tỷ lệ hao hụt do nhiễm bệnh:Thấp (27%)

– Yêu cầu bể trữ dưỡng:Bể nhỏ (144 L, dài 0,8m), bố trí cát, san hô

Macy-3

- Thức ăn cho cá mới nở: Trứng nước tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ , Trứng Artemia

- Thức ăn cho cá hương – trưởng thành: Artemia tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

- Thức ăn cho loại cá lớn: Tép trứng tươi sống đông lạnh Đại Học Cần Thơ

Share This Post